Không chỉ khiến khách tham quan choáng ngợp bởi công trình cáp treo 3 dây đạt 2 kỷ lục Guinness thế giới, Fansipan Sapa còn hút hồn du khách bởi không gian kiến trúc tráng lệ, phong cách châu Âu nhưng đậm chất Tây Bắc Việt Nam.
Được đưa vào phục vụ đầu tháng 2/2016 nhà ga đi cáp treo Fansipan Sapa đã trở thành một tác phẩm kiến trúc nghệ thuật giữa núi rừng Tây Bắc. Cùng với cáp treo Fansipan Sapa đạt hai kỷ lục thế giới, công trình ga Fansipan Sapa đã thể hiện sự đầu tư lớn, bài bản, và tâm huyết xây dựng các công trình có giá trị bền vững của Tập đoàn Sun Group, góp phần tạo cơ hội khám phá, trải nghiệm những điểm đến đẹp nhất của Việt Nam thuận lợi hơn cho đông đảo người dân.
Trong làn sương mờ ảo, nhà ga đi của cáp treo Fansipan hiện lên lộng lẫy với những đường nét kiến trúc khỏe khoắn và đầy tính nghệ thuật.
Dulichgo
Được kiến trúc sư hàng đầu thế giới Bill Bensley thiết kế, ga Fansipan Sapa như một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo.
Mang phong cách Châu Âu cổ điển với lớp tường dày, vòm cửa sổ cao sát mái, từng họa tiết được thiết kế, sử dụng tinh xảo.
Nhưng ga Fansipan Sapa lại khiến du khách sững sờ ở không gian văn hóa truyền thống của các dân tộc vùng Tây Bắc mà KTS. Bill Bensley tinh tế lồng trong các chi tiết.
Như các chi tiết trang trí mô phỏng hình ảnh ruộng bậc thang đặc trưng của vùng Tây Bắc.
Nhà hàng Vân Sam cũng được thiết kế cùng phong cách đó, với những họa tiết tinh tế.
Dulichgo
Quầy lưu niệm Tuyết Tùng ấn tượng, vừa là nơi giới thiệu những sản phẩm lưu niệm độc đáo, vừa là không gian trưng bày đậm tính nghệ thuật, đem tới cho du khách khoảng thời gian thư giãn thú vị.
Hệ thống cầu thang dẫn lên điểm khởi hành tuyến cáp chính được thiết kế sang trọng, hiện đại với cả thang bộ và thang máy.
Theo Doãn Phong (Vietnamnet)
Du lịch, GO!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Núi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Núi. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016
Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2016
Lạc vào rừng chè cổ trên núi Cà Đam
(DVO) - Nhiều cây chè cao hơn 12m, thân thẳng đuột, kích thước hơn nửa vòng tay người ôm, nằm sát bụi rậm... vì vậy nếu không được giới thiệu và để ý thì những người mới thấy lần đầu đều lầm tưởng đây là một loại cây rừng nào đó.
< Chè ở núi Cà Đam mọc hoang dã, tự nhiên khắp nơi.
Nằm khá sâu trong rừng, địa hình đi lại khó khăn và hiểm trở... cho nên ngay cả nhiều người dân Quảng Ngãi cũng không biết rằng ở khu vực núi Cà Đam, xã Trà Bùi, huyện miền núi Trà Bồng hiện vẫn đang tồn tại hàng ngàn cây chè, mà tuổi đời nhiều cây lên trên 200 năm tuổi.
< Cận cảnh cây chè vài trăm năm tuổi.
Nhiều già làng ở huyện Trà Bồng khi nghe hỏi về cây chè ở núi Cà Đam đều lắc đầu: "Không biết số cây chè có nguồn gốc từ đâu và được trồng bao giờ. Nhưng từ khi sinh ra đã nghe ông cha kể và thấy rồi".
Dulichgo
Cũng theo lời lý giải của các già làng trong vùng, có lẽ do khí hậu ở núi Cà Đam lạnh quanh năm; còn đất thì khô cằn... cho nên cây chè thân không to và xòe tán rộng như những nơi khác.
< Do điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nên cây chè ở đây cao và thẳng đuột.
Theo đó dù mọc đã vài chục năm thế nhưng cây chè ở núi Cà Đam khẳng khiu và thẳng đuột, với thân chỉ to bằng cổ chân người lớn.
< Theo các già làng, những cây chè có thân to thế này thì tuổi đời phải trên 200 năm.
Đưa tay chỉ vào vườn chè có thân chỉ to bằng lon nước ngọt nằm ở cạnh nhà, ông Hồ Văn Tạch (42 tuổi, ở thôn Làng Trẫu, cùng xã) cho biết: Số cây chè này phải trên 20 năm mới to được bằng ngần này.
Dulichgo
Và tuy mọc trên đất rẫy vườn nhà của người dân, thế nhưng toàn bộ số cây chè ở núi Cà Đam là tự mọc và phát triển chứ không phải trồng, hay chăm sóc.
Qua quan sát thì cùng với số cây chè nhỏ, còn có những rẫy chè với hàng trăm cây to lớn, với chiều cao trên 12m và đường kính thân cây 50-70cm; mọc xen lẫn với cây rừng trải rộng trên diện tích cả hécta.
< Người dân thu hoạch chè để chuẩn bị bán.
Già Hồ Văn Trường (60 tuổi, cùng ở Làng Trẫu) xác nhận: Với những cây chè có thân to như vậy phải mọc đã được mấy trăm năm rồi.
Theo đó để hái lá trên các cây chè này, người dân phải trèo lên bẻ, hoặc dùng rựa chặt nhánh, cành rồi sau đó loại bỏ bớt đoạn to; bó lại thành từng lọn nhỏ và đem bán.
Vì mọc tự nhiên và hoang dã xen lẫn với cây rừng, cho nên không thể ước tính diện tích là bao nhiêu, thế nhưng theo người dân Trà Bùi thì số lượng cây chè hiện có ở núi Cà Đam phải lên con số hàng chục ngàn cây.
Dulichgo
Với giá bán từ 2000-4000 đồng/bó chè có lọn to cỡ gần 2 nắm tay người lớn, rừng chè này đã góp phần làm tăng thêm nguồn thu cho hàng trăm hộ dân các bản làng ở vùng núi Cà Đam.
Theo Công Xuân (Dân Việt)
Du lịch, GO!
< Chè ở núi Cà Đam mọc hoang dã, tự nhiên khắp nơi.
Nằm khá sâu trong rừng, địa hình đi lại khó khăn và hiểm trở... cho nên ngay cả nhiều người dân Quảng Ngãi cũng không biết rằng ở khu vực núi Cà Đam, xã Trà Bùi, huyện miền núi Trà Bồng hiện vẫn đang tồn tại hàng ngàn cây chè, mà tuổi đời nhiều cây lên trên 200 năm tuổi.
< Cận cảnh cây chè vài trăm năm tuổi.
Nhiều già làng ở huyện Trà Bồng khi nghe hỏi về cây chè ở núi Cà Đam đều lắc đầu: "Không biết số cây chè có nguồn gốc từ đâu và được trồng bao giờ. Nhưng từ khi sinh ra đã nghe ông cha kể và thấy rồi".
Dulichgo
Cũng theo lời lý giải của các già làng trong vùng, có lẽ do khí hậu ở núi Cà Đam lạnh quanh năm; còn đất thì khô cằn... cho nên cây chè thân không to và xòe tán rộng như những nơi khác.
< Do điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nên cây chè ở đây cao và thẳng đuột.
Theo đó dù mọc đã vài chục năm thế nhưng cây chè ở núi Cà Đam khẳng khiu và thẳng đuột, với thân chỉ to bằng cổ chân người lớn.
< Theo các già làng, những cây chè có thân to thế này thì tuổi đời phải trên 200 năm.
Đưa tay chỉ vào vườn chè có thân chỉ to bằng lon nước ngọt nằm ở cạnh nhà, ông Hồ Văn Tạch (42 tuổi, ở thôn Làng Trẫu, cùng xã) cho biết: Số cây chè này phải trên 20 năm mới to được bằng ngần này.
Dulichgo
Và tuy mọc trên đất rẫy vườn nhà của người dân, thế nhưng toàn bộ số cây chè ở núi Cà Đam là tự mọc và phát triển chứ không phải trồng, hay chăm sóc.
Qua quan sát thì cùng với số cây chè nhỏ, còn có những rẫy chè với hàng trăm cây to lớn, với chiều cao trên 12m và đường kính thân cây 50-70cm; mọc xen lẫn với cây rừng trải rộng trên diện tích cả hécta.
< Người dân thu hoạch chè để chuẩn bị bán.
Già Hồ Văn Trường (60 tuổi, cùng ở Làng Trẫu) xác nhận: Với những cây chè có thân to như vậy phải mọc đã được mấy trăm năm rồi.
Theo đó để hái lá trên các cây chè này, người dân phải trèo lên bẻ, hoặc dùng rựa chặt nhánh, cành rồi sau đó loại bỏ bớt đoạn to; bó lại thành từng lọn nhỏ và đem bán.
Vì mọc tự nhiên và hoang dã xen lẫn với cây rừng, cho nên không thể ước tính diện tích là bao nhiêu, thế nhưng theo người dân Trà Bùi thì số lượng cây chè hiện có ở núi Cà Đam phải lên con số hàng chục ngàn cây.
Dulichgo
Với giá bán từ 2000-4000 đồng/bó chè có lọn to cỡ gần 2 nắm tay người lớn, rừng chè này đã góp phần làm tăng thêm nguồn thu cho hàng trăm hộ dân các bản làng ở vùng núi Cà Đam.
Theo Công Xuân (Dân Việt)
Du lịch, GO!
Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016
Về xứ Thanh lên đá Vọng Phu
(TPO) - Một ngày dịp áp cuối năm dương lịch vừa rồi, tôi lại về Thanh trèo lên chỗ Ðá Vọng Phu trên ngọn núi Nhồi. Sau hơn 24 năm, kể từ kiếp nạn của nàng Tô Thị năm 1991 ấy.
Giữa năm 1991, nàng Tô Thị đá bồng con trên núi Tô Thị ở Lạng Sơn, vốn nổi tiếng bởi truyện cổ tích Nàng Tô Thị và câu ca dao “Ðồng Ðăng có phố Kỳ Lừa / Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh…”, đổ nhào xuống vực. Tiếng rền của vụ đổ, mà người ta cho là hậu quả của việc lấy đá nung vôi ấy kinh động cả nước. Nhân đó, người ta mới nhìn lại thấy nước mình quả là có lắm đá vọng phu, thật là tương ứng với lịch sử bi tráng của dân tộc. Liệt kê ra thấy những là Vọng Phu trên đỉnh núi Bà, Bình Ðịnh; Vọng Phu trên đỉnh núi M'drak, Ðắk Lắk; Vọng Phu trên đỉnh núi Nhồi, Thanh Hóa; Vọng Phu bên bờ khe Giai, Nghệ An…
Khi đó, tự dưng trong đầu tôi ong lên tiếng nổ mìn ùng ùng phá đá nung vôi ngày hai cữ trưa và cuối chiều ở núi Nhồi mà hôm nào tôi cũng nghe hồi còn học ở Trường cấp 3 Lam Sơn, thị xã Thanh Hóa vào cuối những năm 70. Tiếng ong ong ấy thúc tôi về leo ngọn núi Nhồi, lên chỗ Ðá Vọng Phu xem nó sắp đổ chưa, rồi lang thang trong làng đá Nhồi để lấy thông tin tư liệu và cả… tâm trạng nữa để viết bài ký “Tô Thị đổ, Vọng Phu lo”.
Ðược ông Trịnh Ngữ - Giám đốc bảo tàng Thanh Hóa khi đó cung cấp nhiều tư liệu, được anh Ngân cán bộ của ông Ngữ dẫn đi các ngóc ngách làng Nhồi và cả vùng văn hóa đá bao quanh bán kính đến vài cây số, được hầu chuyện nghệ nhân lừng danh Lê Văn Ngũ về nghề chế tác đá, thành thử tôi trở thành một tay có hiểu biết kha khá về đá Nhồi, làng Nhồi và nghề đá núi Nhồi.
Hồi đó, nhìn khu núi tan hoang sau mấy chục năm bị đánh mìn lấy đá nung vôi, tôi nghĩ về câu ca nghe dưới chân núi “Cơm ăn mỗi bữa mỗi nồi/Bao giờ đập đá núi Nhồi cho xong” với niềm chua xót: Người xưa không thể ngờ được sức tàn phá của con cháu với công nghệ trong tay!
Dulichgo
Thực sự cho đến nay, tôi lấy làm lạ là một thắng cảnh như Núi Nhồi với Ðá Vọng Phu bên trên và một làng nghề tài hoa nghìn năm bên dưới, nằm cách trung tâm thành phố Thanh Hóa về phía Tây Nam có vài cây số, đường đi lối lại thuận tiện, lại ít nổi tiếng, ít được để ý, ngay cả đối với người Thanh Hóa. Không biết hằng ngày có mấy người trong số những nghìn nghịt ngược xuôi trên con đường nối tỉnh lỵ với mấy huyện phía trên, hay trên tuyến đường sắt thiên lý Bắc - Nam để mắt nhìn lên nhóm tượng đá đứng lặng phắc trên ngọn núi, đội nắng gội mưa chẳng biết tự đời nào, mặt hướng thẳng ra phía biển?!
Chồng của Tô Thị đi lính không về nên nàng nhìn mãi phương Bắc. Còn chồng của Vọng Phu ở Nhồi, theo truyền thuyết, thì đánh cá ngoài khơi không về nên con mắt đá của nàng vĩnh viễn ngưng đọng một cái nhìn ra biển. Hai người đàn bà đá mà số phận biểu tượng cho tất cả đàn bà Việt từng phải xa chồng, từng mẹ góa con côi, do chiến trận, do sinh kế.
Giờ không còn nhiều người biết, nhưng dân gian xưa ở Thanh Hóa cũng như nhiều danh sĩ đặt chân tới chốn này từng có những cảm tác sâu lắng về nàng Vọng Phu. Ai đó, sống ở thời nào đó ở xứ Thanh là tác giả câu thơ:
Vọng Phu trẻ mãi không già
Nghìn năm đứng đó biết là đợi ai?
Ông Nghè Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925) thấy nàng thì cảm thán:
Ngọc nữ sơn tiền tống nhạn quy
Xuân phong xuy vũ mãn thiên phi
Ðược dịch là:
Ngọc nữ đầu non chiếc nhạn qua
Ðầy trời mưa lạnh, gió xuân đưa
Nhồi là một núi thấp, chỉ cao chừng trăm mét, đường lên không phải là khó, nhưng thực sự không nhiều người lên đến tận nơi để thấy trên ngực cột đá tượng chính có khắc 4 chữ Hán lớn Kiệt Nhiên Trung Trĩ, dịch là Sừng Sững Giữa Trời.
Dulichgo
Ðó là những chữ mà quan Tổng đốc Thanh Hóa Nguyễn Thuật (1842-1911), người có công xin triều đình nhà Nguyễn cho mở lại trường thi ở Thanh Hóa, chấn hưng lại sự học ở tỉnh này một thời, đề tự và cho khắc lên đá Vọng Phu vào năm Canh Dần (1890), đời vua Thành Thái. Hồi năm 91 tôi lên thấy nét khắc rêu phong, trông cổ kính; giữa trời cao, nó có gì đó thật gợi, thật bí ẩn. Nay lên lại, chữ và nền bia chắc vừa được tô tạc lại, nhìn mới, tự dưng tạo cho mình cái cảm giác na ná như khi thấy Tháp Rùa được sơn quét lại.
Khác với những người chị em như Tô Thị và vọng phu khác, Vọng Phu Thanh Hóa là tác phẩm vừa thiên tạo, vừa nhân tạo. Các thợ đá Nhồi xưa lấy đá trên núi, thấy hình dáng tựa người của những hòn đá này nên đã chừa lại và lấy sâu xuống khiến cho cột đá cao lên đến khoảng 40 mét như ngày nay. Mà nói đến chuyện lấy đá, phải nhắc đến một giới luật xưa của làng Nhồi, đó là chỉ được lấy đá trên núi, cấm tiệt lấy dưới chân. Không biết dùng mìn (mà biết cũng không thể dùng vì mìn làm đá vỡ nát, tảng nào còn thì bị chấn động, bị om, đứt mạch, không thể dùng chế tác mỹ nghệ được), người xưa lên núi chọn dò các mạch đá rồi theo đó đục các rãnh sâu chừng hai mươi phân, chêm nêm gỗ khô vào rồi đổ nước.
Gỗ hút nước nở mạnh tách mạch đá ra thành những phiến theo ý muốn của người thợ. Họ ghè, đẽo, sơ chế phiến đá rồi mới đưa xuống chân núi. Vì vậy mà lần đầu lên lưng chừng và đỉnh núi Nhồi, tôi kinh ngạc thấy bạt ngàn đá dăm, kinh ngạc nữa khi biết trước đó, khôi phục đường sắt sau cuộc kháng Pháp, người ta đã lấy rất nhiều đá dăm ở đây đi rải đường tàu. Bây giờ đá dăm vẫn còn lớp lớp trên đó. Nhìn ức triệu mảnh đá vụn mới biết lịch sử làng đá Nhồi dài đến thế nào.
Dulichgo
Có người liên tưởng nguồn gốc nghề đá núi Nhồi với các việc các đoàn tù binh Chăm bị đưa về lập trại ở đây vào cuối đời nhà Tiền Lê và nhà Lý. Người Chăm giỏi chế tác đá nhưng hẳn họ cũng chỉ đóng góp thêm vào sự phát triển của nghệ thuật đá nơi này, bởi nghề đá ở đây có từ trước đó rất lâu. Một số cuốn cổ sử Trung Hoa chép rằng đời Tấn (265 - 420), viên thái thú tên là Phạm Ninh đã sai người đến núi này lấy đá để làm khánh. Sự tích tổ nghề làng Nhồi tôi nghe từ một cụ già hồi đó cũng không có vết tích Chăm ở trong. Kể rằng thời Bắc thuộc, thầy địa lý Tàu phát hiện trên đỉnh núi Nhồi có huyệt đế vương nên Hoàng đế Trung Hoa phái một viên quan tới phá núi, triệt huyệt. Viên quan là người nhân hậu, đến nơi thấy cảnh núi đẹp, người dân hiền lành, chăm chỉ, đá núi lại tốt nên không nỡ phá núi mà nghĩ ra một cách nhất cử lưỡng tiện là truyền nghề chế tác đá cho dân và quy định thành giới luật chỉ được lấy đá trên đỉnh núi để bí mật phá huyệt.
Bất luận nguồn gốc nghề đá Nhồi thế nào thì Nhồi cũng từng là một làng đá đứng hàng nhất nước. Triều đình nhà Nguyễn phải công nhận là thợ đá trong nước thì ở làng Nhồi "là sở trường hơn cả". Sử sách ca ngợi đá núi Nhồi, tôn vinh nghệ thuật đá và lưu danh những thợ đá – nghệ nhân tài hoa làng Nhồi đã để lại công nghiệp ngàn năm. Trước khi trở thành Thái úy nhà Lý, Lý Thường Kiệt là quan trấn thủ Thanh Hóa, ngài đã cho lấy đá núi Nhồi xây dựng chùa Báo Ân ngay gần đó (giờ không còn) mà tấm bia của chùa này có đoạn ghi rằng, núi Nhồi “Sản xuất nhiều đá đẹp, đó là đồ vật quý của mọi người. Sắc đá óng ánh như ngọc lam, chất xanh như khói nhạt.
Sau này đục làm khí cụ, ví như đẽo thành khánh, đánh lên thì tiếng ngân muôn dặm; dùng làm bia, văn chương để lại ngàn đời”. Không chỉ dùng làm các vật dụng thường ngày như con lăn, cối, chân cột, con giống, tượng người…, đá Nhồi vang danh chủ yếu bởi được đưa đi làm các chùa lớn thời Lý, khu điện Lam Kinh thời Hậu Lê, thành Phú Xuân thời Quang Trung, Kinh thành Huế thời Nguyễn, rồi Phủ Giày, Nhà thờ đá Phát Diệm… Công trình đặc biệt Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng tới 730 mét khối đá đen, thứ đá đặc biệt quý ở núi Nhồi mà ít nơi khác có. Quanh núi hiện vẫn còn vết tích nhiều công trình đá một thuở trứ danh như các chùa Hinh Sơn, Tiên Sơn; các lăng tẩm đá, đền đài đá như lăng Mãn Quận công Lê Trung Nghĩa.
Ðá lừng danh, ắt thợ cũng lưu truyền sử sách. Vẫn còn đủ cả tên tuổi những người làng Nhồi đã khắc bia tiến sĩ ở Văn Miếu và tham gia làm các công trình vừa kể. Trong số họ, tôi từng gặp một người, cụ Lê Văn Ngũ, người tham gia những công trình lớn như Trúc Lâm thiền viện tại Pháp, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, phục chế chùa Bút Tháp, đầu rồng đá Lam Kinh, bóc tách tấm đá trên vách núi ở huyện Ðà Bắc có khắc bài thơ của Lê Lợi để cứu nó khỏi chìm dưới lòng hồ thủy điện Hòa Bình...
Hôm về lại Nhồi, tôi hú họa vào một cơ sở đá ven đường. May, gặp anh Trần Văn Huế, được xếp vào hàng 4 người làng Nhồi hiện nay tay nghề khả dĩ tiếp nối được người xưa. Những người tay búa, tay đục trình độ như anh giờ hiếm vì Nhồi giờ có khoảng 20 cơ sở chế tác đá (so với 300 gia đình làm nghề thời Nguyễn!), nhưng các thợ trẻ hầu hết dùng máy để khoan, cắt, tạo hình, ít người có khả năng thổi hồn vào đá. Anh Huế từng tham gia làm các phần đá ở cầu Trường Tiền, Huế; tu bổ Nhà thờ Phát Diệm, các con giống ở Lam Kinh, bậc tam cấp Ngân hàng Nhà nước…
Dulichgo
Con anh Huế, Trần Văn Tiến, ông chủ trẻ của cơ sở đá mỹ nghệ Tiến Quân, vừa cùng bạn thợ trở về sau khi làm hệ thống lan can đá cho công trình tận đỉnh Phanxiphăng. Tiến có một ý nguyện nhờ tôi đưa lên báo: Cơ sở của Tiến cũng như hầu hết cơ sở đá mỹ nghệ ở Nhồi đều tự phát. Tiến mong muốn có một quy hoạch làng nghề cho Nhồi, như ở Non Nước, Ðà Nẵng hoặc Ninh Vân, Ninh Bình để có thể làm ăn ổn định, đường hoàng, nối nghiệp tổ tiên.
Chuyện sinh kế thì thời nào cũng là việc trọng, nhất là khi nối nghiệp tổ tiên, lưu giữ tài hoa của cha ông. Mong cho nguyện vọng của Tiến sớm được đáp ứng. Nhưng cả hai lần lên đỉnh Nhồi, đứng cạnh đá Vọng Phu, tôi đều đưa mắt nhìn xuống tứ bề rộng lớn tỉnh lỵ quê Thanh. Thấy nhà cửa nhỏ như đồ chơi lego, ô tô ngược xuôi bé như con lợn kẹo, người lăng xăng di chuyển nhỏ li ti như kiến, thốt nhiên tự thấy bản thân mình với những lo lắng bon chen thường nhật có gì như vô nghĩa.
Như là một nốt lạc quan, nếu như trong chuyến lên núi 1991, tôi chỉ gặp đúng một người, một anh lính giải ngũ, mà tiếng nổ đoành của thuốc mìn anh phá đá “trộm” làm tôi giật mình (thời điểm đó, tỉnh đã cấm khai thác đá) thì chuyến mới đây, tôi đi trong lặng phắc, tức là ngọn núi cơ bản đã được bảo vệ thành công. Những tưởng cả núi chiều đó chỉ có một mình tôi, bỗng từ một đường nhánh lưng chừng núi nhô ra hai bạn trẻ. Nhõng nhẽo một chút rồi chàng trai cõng cô gái xuống núi. Bắt chuyện vài câu, không tiết lộ mình là nhà báo, tôi vượt xuôi xuống phía dưới chụp ngược lên một bức ảnh. Ðôi tình nhân cõng nhau đi trong chiều, phía sau họ là hình nàng Vọng Phu vạn năm ngóng chồng in sững lên nền trời xám.
Theo Lê Xuân Sơn (Tiền Phong)
Du lịch, GO!
Giữa năm 1991, nàng Tô Thị đá bồng con trên núi Tô Thị ở Lạng Sơn, vốn nổi tiếng bởi truyện cổ tích Nàng Tô Thị và câu ca dao “Ðồng Ðăng có phố Kỳ Lừa / Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh…”, đổ nhào xuống vực. Tiếng rền của vụ đổ, mà người ta cho là hậu quả của việc lấy đá nung vôi ấy kinh động cả nước. Nhân đó, người ta mới nhìn lại thấy nước mình quả là có lắm đá vọng phu, thật là tương ứng với lịch sử bi tráng của dân tộc. Liệt kê ra thấy những là Vọng Phu trên đỉnh núi Bà, Bình Ðịnh; Vọng Phu trên đỉnh núi M'drak, Ðắk Lắk; Vọng Phu trên đỉnh núi Nhồi, Thanh Hóa; Vọng Phu bên bờ khe Giai, Nghệ An…
Khi đó, tự dưng trong đầu tôi ong lên tiếng nổ mìn ùng ùng phá đá nung vôi ngày hai cữ trưa và cuối chiều ở núi Nhồi mà hôm nào tôi cũng nghe hồi còn học ở Trường cấp 3 Lam Sơn, thị xã Thanh Hóa vào cuối những năm 70. Tiếng ong ong ấy thúc tôi về leo ngọn núi Nhồi, lên chỗ Ðá Vọng Phu xem nó sắp đổ chưa, rồi lang thang trong làng đá Nhồi để lấy thông tin tư liệu và cả… tâm trạng nữa để viết bài ký “Tô Thị đổ, Vọng Phu lo”.
Ðược ông Trịnh Ngữ - Giám đốc bảo tàng Thanh Hóa khi đó cung cấp nhiều tư liệu, được anh Ngân cán bộ của ông Ngữ dẫn đi các ngóc ngách làng Nhồi và cả vùng văn hóa đá bao quanh bán kính đến vài cây số, được hầu chuyện nghệ nhân lừng danh Lê Văn Ngũ về nghề chế tác đá, thành thử tôi trở thành một tay có hiểu biết kha khá về đá Nhồi, làng Nhồi và nghề đá núi Nhồi.Hồi đó, nhìn khu núi tan hoang sau mấy chục năm bị đánh mìn lấy đá nung vôi, tôi nghĩ về câu ca nghe dưới chân núi “Cơm ăn mỗi bữa mỗi nồi/Bao giờ đập đá núi Nhồi cho xong” với niềm chua xót: Người xưa không thể ngờ được sức tàn phá của con cháu với công nghệ trong tay!
Dulichgo
Thực sự cho đến nay, tôi lấy làm lạ là một thắng cảnh như Núi Nhồi với Ðá Vọng Phu bên trên và một làng nghề tài hoa nghìn năm bên dưới, nằm cách trung tâm thành phố Thanh Hóa về phía Tây Nam có vài cây số, đường đi lối lại thuận tiện, lại ít nổi tiếng, ít được để ý, ngay cả đối với người Thanh Hóa. Không biết hằng ngày có mấy người trong số những nghìn nghịt ngược xuôi trên con đường nối tỉnh lỵ với mấy huyện phía trên, hay trên tuyến đường sắt thiên lý Bắc - Nam để mắt nhìn lên nhóm tượng đá đứng lặng phắc trên ngọn núi, đội nắng gội mưa chẳng biết tự đời nào, mặt hướng thẳng ra phía biển?!
Chồng của Tô Thị đi lính không về nên nàng nhìn mãi phương Bắc. Còn chồng của Vọng Phu ở Nhồi, theo truyền thuyết, thì đánh cá ngoài khơi không về nên con mắt đá của nàng vĩnh viễn ngưng đọng một cái nhìn ra biển. Hai người đàn bà đá mà số phận biểu tượng cho tất cả đàn bà Việt từng phải xa chồng, từng mẹ góa con côi, do chiến trận, do sinh kế.Giờ không còn nhiều người biết, nhưng dân gian xưa ở Thanh Hóa cũng như nhiều danh sĩ đặt chân tới chốn này từng có những cảm tác sâu lắng về nàng Vọng Phu. Ai đó, sống ở thời nào đó ở xứ Thanh là tác giả câu thơ:
Vọng Phu trẻ mãi không già
Nghìn năm đứng đó biết là đợi ai?
Ông Nghè Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925) thấy nàng thì cảm thán:
Ngọc nữ sơn tiền tống nhạn quy
Xuân phong xuy vũ mãn thiên phi
Ngọc nữ đầu non chiếc nhạn qua
Ðầy trời mưa lạnh, gió xuân đưa
Nhồi là một núi thấp, chỉ cao chừng trăm mét, đường lên không phải là khó, nhưng thực sự không nhiều người lên đến tận nơi để thấy trên ngực cột đá tượng chính có khắc 4 chữ Hán lớn Kiệt Nhiên Trung Trĩ, dịch là Sừng Sững Giữa Trời.
Dulichgo
Ðó là những chữ mà quan Tổng đốc Thanh Hóa Nguyễn Thuật (1842-1911), người có công xin triều đình nhà Nguyễn cho mở lại trường thi ở Thanh Hóa, chấn hưng lại sự học ở tỉnh này một thời, đề tự và cho khắc lên đá Vọng Phu vào năm Canh Dần (1890), đời vua Thành Thái. Hồi năm 91 tôi lên thấy nét khắc rêu phong, trông cổ kính; giữa trời cao, nó có gì đó thật gợi, thật bí ẩn. Nay lên lại, chữ và nền bia chắc vừa được tô tạc lại, nhìn mới, tự dưng tạo cho mình cái cảm giác na ná như khi thấy Tháp Rùa được sơn quét lại.
Khác với những người chị em như Tô Thị và vọng phu khác, Vọng Phu Thanh Hóa là tác phẩm vừa thiên tạo, vừa nhân tạo. Các thợ đá Nhồi xưa lấy đá trên núi, thấy hình dáng tựa người của những hòn đá này nên đã chừa lại và lấy sâu xuống khiến cho cột đá cao lên đến khoảng 40 mét như ngày nay. Mà nói đến chuyện lấy đá, phải nhắc đến một giới luật xưa của làng Nhồi, đó là chỉ được lấy đá trên núi, cấm tiệt lấy dưới chân. Không biết dùng mìn (mà biết cũng không thể dùng vì mìn làm đá vỡ nát, tảng nào còn thì bị chấn động, bị om, đứt mạch, không thể dùng chế tác mỹ nghệ được), người xưa lên núi chọn dò các mạch đá rồi theo đó đục các rãnh sâu chừng hai mươi phân, chêm nêm gỗ khô vào rồi đổ nước.
Gỗ hút nước nở mạnh tách mạch đá ra thành những phiến theo ý muốn của người thợ. Họ ghè, đẽo, sơ chế phiến đá rồi mới đưa xuống chân núi. Vì vậy mà lần đầu lên lưng chừng và đỉnh núi Nhồi, tôi kinh ngạc thấy bạt ngàn đá dăm, kinh ngạc nữa khi biết trước đó, khôi phục đường sắt sau cuộc kháng Pháp, người ta đã lấy rất nhiều đá dăm ở đây đi rải đường tàu. Bây giờ đá dăm vẫn còn lớp lớp trên đó. Nhìn ức triệu mảnh đá vụn mới biết lịch sử làng đá Nhồi dài đến thế nào.Dulichgo
Có người liên tưởng nguồn gốc nghề đá núi Nhồi với các việc các đoàn tù binh Chăm bị đưa về lập trại ở đây vào cuối đời nhà Tiền Lê và nhà Lý. Người Chăm giỏi chế tác đá nhưng hẳn họ cũng chỉ đóng góp thêm vào sự phát triển của nghệ thuật đá nơi này, bởi nghề đá ở đây có từ trước đó rất lâu. Một số cuốn cổ sử Trung Hoa chép rằng đời Tấn (265 - 420), viên thái thú tên là Phạm Ninh đã sai người đến núi này lấy đá để làm khánh. Sự tích tổ nghề làng Nhồi tôi nghe từ một cụ già hồi đó cũng không có vết tích Chăm ở trong. Kể rằng thời Bắc thuộc, thầy địa lý Tàu phát hiện trên đỉnh núi Nhồi có huyệt đế vương nên Hoàng đế Trung Hoa phái một viên quan tới phá núi, triệt huyệt. Viên quan là người nhân hậu, đến nơi thấy cảnh núi đẹp, người dân hiền lành, chăm chỉ, đá núi lại tốt nên không nỡ phá núi mà nghĩ ra một cách nhất cử lưỡng tiện là truyền nghề chế tác đá cho dân và quy định thành giới luật chỉ được lấy đá trên đỉnh núi để bí mật phá huyệt.
Bất luận nguồn gốc nghề đá Nhồi thế nào thì Nhồi cũng từng là một làng đá đứng hàng nhất nước. Triều đình nhà Nguyễn phải công nhận là thợ đá trong nước thì ở làng Nhồi "là sở trường hơn cả". Sử sách ca ngợi đá núi Nhồi, tôn vinh nghệ thuật đá và lưu danh những thợ đá – nghệ nhân tài hoa làng Nhồi đã để lại công nghiệp ngàn năm. Trước khi trở thành Thái úy nhà Lý, Lý Thường Kiệt là quan trấn thủ Thanh Hóa, ngài đã cho lấy đá núi Nhồi xây dựng chùa Báo Ân ngay gần đó (giờ không còn) mà tấm bia của chùa này có đoạn ghi rằng, núi Nhồi “Sản xuất nhiều đá đẹp, đó là đồ vật quý của mọi người. Sắc đá óng ánh như ngọc lam, chất xanh như khói nhạt.
Sau này đục làm khí cụ, ví như đẽo thành khánh, đánh lên thì tiếng ngân muôn dặm; dùng làm bia, văn chương để lại ngàn đời”. Không chỉ dùng làm các vật dụng thường ngày như con lăn, cối, chân cột, con giống, tượng người…, đá Nhồi vang danh chủ yếu bởi được đưa đi làm các chùa lớn thời Lý, khu điện Lam Kinh thời Hậu Lê, thành Phú Xuân thời Quang Trung, Kinh thành Huế thời Nguyễn, rồi Phủ Giày, Nhà thờ đá Phát Diệm… Công trình đặc biệt Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng tới 730 mét khối đá đen, thứ đá đặc biệt quý ở núi Nhồi mà ít nơi khác có. Quanh núi hiện vẫn còn vết tích nhiều công trình đá một thuở trứ danh như các chùa Hinh Sơn, Tiên Sơn; các lăng tẩm đá, đền đài đá như lăng Mãn Quận công Lê Trung Nghĩa.Ðá lừng danh, ắt thợ cũng lưu truyền sử sách. Vẫn còn đủ cả tên tuổi những người làng Nhồi đã khắc bia tiến sĩ ở Văn Miếu và tham gia làm các công trình vừa kể. Trong số họ, tôi từng gặp một người, cụ Lê Văn Ngũ, người tham gia những công trình lớn như Trúc Lâm thiền viện tại Pháp, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, phục chế chùa Bút Tháp, đầu rồng đá Lam Kinh, bóc tách tấm đá trên vách núi ở huyện Ðà Bắc có khắc bài thơ của Lê Lợi để cứu nó khỏi chìm dưới lòng hồ thủy điện Hòa Bình...
Hôm về lại Nhồi, tôi hú họa vào một cơ sở đá ven đường. May, gặp anh Trần Văn Huế, được xếp vào hàng 4 người làng Nhồi hiện nay tay nghề khả dĩ tiếp nối được người xưa. Những người tay búa, tay đục trình độ như anh giờ hiếm vì Nhồi giờ có khoảng 20 cơ sở chế tác đá (so với 300 gia đình làm nghề thời Nguyễn!), nhưng các thợ trẻ hầu hết dùng máy để khoan, cắt, tạo hình, ít người có khả năng thổi hồn vào đá. Anh Huế từng tham gia làm các phần đá ở cầu Trường Tiền, Huế; tu bổ Nhà thờ Phát Diệm, các con giống ở Lam Kinh, bậc tam cấp Ngân hàng Nhà nước… Dulichgo
Con anh Huế, Trần Văn Tiến, ông chủ trẻ của cơ sở đá mỹ nghệ Tiến Quân, vừa cùng bạn thợ trở về sau khi làm hệ thống lan can đá cho công trình tận đỉnh Phanxiphăng. Tiến có một ý nguyện nhờ tôi đưa lên báo: Cơ sở của Tiến cũng như hầu hết cơ sở đá mỹ nghệ ở Nhồi đều tự phát. Tiến mong muốn có một quy hoạch làng nghề cho Nhồi, như ở Non Nước, Ðà Nẵng hoặc Ninh Vân, Ninh Bình để có thể làm ăn ổn định, đường hoàng, nối nghiệp tổ tiên.
Chuyện sinh kế thì thời nào cũng là việc trọng, nhất là khi nối nghiệp tổ tiên, lưu giữ tài hoa của cha ông. Mong cho nguyện vọng của Tiến sớm được đáp ứng. Nhưng cả hai lần lên đỉnh Nhồi, đứng cạnh đá Vọng Phu, tôi đều đưa mắt nhìn xuống tứ bề rộng lớn tỉnh lỵ quê Thanh. Thấy nhà cửa nhỏ như đồ chơi lego, ô tô ngược xuôi bé như con lợn kẹo, người lăng xăng di chuyển nhỏ li ti như kiến, thốt nhiên tự thấy bản thân mình với những lo lắng bon chen thường nhật có gì như vô nghĩa.
Như là một nốt lạc quan, nếu như trong chuyến lên núi 1991, tôi chỉ gặp đúng một người, một anh lính giải ngũ, mà tiếng nổ đoành của thuốc mìn anh phá đá “trộm” làm tôi giật mình (thời điểm đó, tỉnh đã cấm khai thác đá) thì chuyến mới đây, tôi đi trong lặng phắc, tức là ngọn núi cơ bản đã được bảo vệ thành công. Những tưởng cả núi chiều đó chỉ có một mình tôi, bỗng từ một đường nhánh lưng chừng núi nhô ra hai bạn trẻ. Nhõng nhẽo một chút rồi chàng trai cõng cô gái xuống núi. Bắt chuyện vài câu, không tiết lộ mình là nhà báo, tôi vượt xuôi xuống phía dưới chụp ngược lên một bức ảnh. Ðôi tình nhân cõng nhau đi trong chiều, phía sau họ là hình nàng Vọng Phu vạn năm ngóng chồng in sững lên nền trời xám.
Theo Lê Xuân Sơn (Tiền Phong)
Du lịch, GO!
Thứ Bảy, 6 tháng 2, 2016
Ngàn Nưa linh thiêng
Ngàn Nưa (thuộc xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa) không chỉ là nơi năm xưa Bà Triệu khởi binh chống lại ách đô hộ của Đông Ngô, mà tương truyền trên đỉnh Am Tiên ở Ngàn Nưa có huyệt đạo linh thiêng bậc nhất nước ta.
Chủ sơn của xứ Thanh linh địa
Chúng tôi ngược dốc Ngàn Nưa lên đỉnh Am Tiên vào buổi sáng mai khi hơi sương còn giăng kín lối đi. Am Tiên mùa này thưa vắng khách thăm, không gian của núi thiêng nhuốm vẻ hoang sơ, u tịch như trong những câu chuyện thần tiên, kỳ bí lưu truyền ở vùng Kẻ Nưa - Cổ Định. Trong cảnh sắc mờ ảo sương khói, Ngàn Nưa hiện lên trầm mặc, với những thác nước trắng xóa như từ giữa biển mây đổ xuống những trảng rừng mờ đục xa xa.
Sương dần tan, đứng trên đỉnh Am Tiên, ở độ cao 538 m so với mực nước biển, nhìn xuống vùng đồng bằng Nông Cống, Triệu Sơn với đồng ruộng, xóm thôn thật yên bình. Này là dòng Lãn Giang hiền hòa tưới mát những cánh đồng trù mật, xanh ngắt. Đây là giếng Tiên, ao Hóp, nơi các nàng tiên tắm mát trước khi trở về trời. Kia là núi Tía, núi Lễ Động gắn liền với truyền thuyết ẩn sĩ Tu Nưa nhiều pháp thuật, hóa thành chim hạc bay về trời...
Ông Lê Bật Sơn, thủ từ đền Am Tiên, cho biết nơi đây là đỉnh cao nhất của Ngàn Nưa. Ngày xưa, để lên lễ Phật, lễ tiên, lễ thần linh, lễ Thánh Mẫu... khách hành hương phải đi bộ non nửa ngày, vượt qua 7 ngọn núi hiểm trở. Còn theo nhà nghiên cứu sử học Phạm Tấn, trong tín ngưỡng tâm linh, từ xưa Ngàn Nưa vẫn được xem là núi thiêng và là trung tâm của đạo Tu Tiên (biến thể của đạo Lão), đạo Phật, đạo Mẫu, đạo thờ thần... từng rất thịnh. Hơn thế, Ngàn Nưa vẫn được người xưa ví là chủ sơn (núi chủ) của Ái Châu - xứ Thanh linh.
Dulichgo
Sử cũ còn ghi, chính ở Ngàn Nưa linh thiêng, năm 248, Bà Triệu cùng người anh trai Triệu Quốc Đạt đã tập hợp nghĩa sĩ, luyện tập võ nghệ, dấy binh khởi nghĩa, đánh đuổi giặc Đông Ngô, giành lại giang sơn, xã tắc. Dù cuộc khởi nghĩa thất bại và sau đó, Bà Triệu phải tuẫn tiết ở núi Tùng (xã Triệu Lộc, H.Hậu Lộc, Thanh Hóa) nhưng hình ảnh người phụ nữ phi thường với câu nói đầy khí phách: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi giặc Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người ta” vẫn còn mãi vang vọng.
Huyền tích ẩn sĩ tu tiên
Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép: “Ở Tinh Mễ, xã Quần Ngọc phía tây của huyện Nông Cống (nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn - PV) có tên gọi là khu Na Sơn (núi đuổi ma). Tương truyền núi có nhiều ma quỷ nhưng rồi một vị sơn tăng đến đây đọc chú, dần dần ma quỷ biến mất đi nên có tên gọi như thế. Mạch núi vốn được bắt nguồn từ huyện Lôi Dương (nay thuộc huyện Thọ Xuân) đổ lại, từng dãy liền tiếp, dài suốt mười mấy dặm. Nơi đây có 4 ngọn nước đổ dồn, nhà phong thủy nói bảy phiến long, bảy phiến hổ tức là nơi này. Trên ngọn cao chót vót của dãy núi có một ngôi chùa cổ, tục gọi là Am Tiên. Phía tả có cái động, tối mà sâu, dài mà hiểm. Triều Trần có một người hái củi ẩn cư nơi đó, có người gọi là Hoàng My tiên sinh...”.
Dulichgo
Nhà nghiên cứu lịch sử Phạm Tấn còn dẫn ra rất nhiều sách cổ ghi chép về Ngàn Nưa. Các ghi chép dẫu dài, ngắn khác nhau, nhưng đều có chung nội dung phản ánh về người tiều phu núi Nưa - tức vị ẩn sĩ thời Trần - Hồ từng giấu mình trên đỉnh Am Tiên ở Ngàn Nưa để tu tiên đắc đạo mà không chịu ra giúp nhà Hồ. Sau nhiều lần mời gọi không được, Hồ Hán Thương đã cho đốt núi, vị ẩn sĩ ấy hóa thành hạc đen bay lên trời. “Thời Trần - Hồ, Ngàn Nưa đã nổi tiếng là núi thiêng để các bậc ẩn sĩ đến tu tiên, lánh xa thế sự. Đến thời Lê và thời Nguyễn, các ngôi chùa, đền, miếu lần lượt được xây dựng...”, nhà nghiên cứu Phạm Tấn nói.
Từ trung tâm Am Tiên, đạo Tu Tiên đã phát triển mạnh ra các vùng xung quanh núi Nưa. Những tên gọi của các đỉnh núi ở Ngàn Nưa đều nhắc nhớ đến bóng dáng các đạo sĩ tu tiên, như đỉnh Các Sơn, Tượng Sơn, núi Sẻ, Bể Cạn... cùng những dấu tích như bàn cờ Tiên, chùa Tiên, giếng Tiên, vườn Đào Tiên, vườn thuốc Tiên... mang đậm truyền thuyết, huyền thoại ly kỳ, hấp dẫn. Đến ngày nay, ở vùng Kẻ Nưa - Cổ Định, dưới đỉnh Am Tiên vẫn còn lưu truyền nhiều câu chuyện thần tiên, như truyện các tiên ông xuống chợ, truyện ông Tu Nưa giúp dân chống lại cường quyền, truyện ông Tu Nưa giúp dân gánh núi...
Huyệt đạo linh
Theo truyền thuyết, nước ta có 3 huyệt đạo quốc gia, trong đó huyệt đạo Am Tiên là linh thiêng nhất. Tương truyền vào thời Đường, tướng Cao Biền được cử sang cai trị nước ta, thấy nơi đây có hình sông, thế núi linh thiêng, long mạch rất vượng, nên muốn phá đi. Cao Biền thường mặc áo phù thủy, cưỡi diều giấy đi khắp nơi để xem địa thế, hoặc giả lập đàn cúng tế lừa thần bản địa đến rồi dùng kiếm báu chém đầu, xong đào hào, chôn kim khí để triệt long mạch. Khi bay đến Ngàn Nưa, Cao Biền đã tìm cách trấn yểm huyệt đạo trên đỉnh Am Tiên nhưng bất thành (?).
Cứ theo cách lý giải của nhà nghiên cứu Phạm Tấn thì dẫu truyện Cao Biền có tà thuật trấn yểm long mạch, huyệt đạo chỉ là truyền thuyết hoang đường nhưng đức tin vào một huyệt đạo linh thiêng trên đỉnh Am Tiên trong dân gian là có thật. “Vì sao Bà Triệu lại chọn nơi này làm nơi dấy binh khởi nghĩa; vì sao các bậc ẩn sĩ thời Trần - Hồ lại đến đây tu tiên đắc đạo; vì sao chỉ với một đỉnh núi chật hẹp lại được các đạo Tu Tiên, đạo Phật, đạo Mẫu, đạo thờ thần cùng coi trọng? Chưa có sự giải thích nào cho những câu hỏi đó nhưng chắc hẳn các bậc cao minh chọn đỉnh Ngàn Nưa để gây dựng sự nghiệp hoặc ở ẩn tu tiên có nguyên do của nó. Vậy nên tự xưa người dân tin rằng Am Tiên là đỉnh thiêng, là huyệt đạo huyền bí bằng niềm tin tâm linh cũng là điều dễ hiểu”, nhà nghiên cứu Phạm Tấn nói.
Dulichgo
Dẫn chúng tôi lên mỏm đất bằng phẳng rộng chừng vài trăm mét vuông trên đỉnh Am Tiên, ông Lê Bật Sơn nói rằng đây chính là huyệt đạo linh thiêng của nước Nam mà xưa kia Cao Biền trấn yểm bất thành. Ông bảo, cứ vào những thời khắc biến động của đất nước, đêm đến người dân quanh vùng lại thấy một quầng sáng bí ẩn trên đỉnh Ngàn Nưa, ngay tại Am Tiên này.
“Vào mùng 9 tháng giêng hằng năm - ngày được dân gian lưu truyền là ngày mở cửa trời, đứng ở trung tâm của huyệt đạo Am Tiên, nhắm mắt lại, thả lỏng cơ thể, ta sẽ thấy trước mắt một quầng sáng màu đỏ, rồi chuyển sang màu da cam, cuối cùng là màu trắng xanh lẫn các hạt bụi. Trong khoảnh khắc ấy, người ta sẽ có cảm giác như mình đang bay bổng và hòa cùng với những chuyển động của vũ trụ bao la. Tâm hồn và thể xác trở nên thư thái, nhẹ nhõm, kỳ lạ lắm...”, ông Sơn nói.
Ở xứ Thanh này có lẽ không ai thông thuộc từng mỏm đá gốc cây trên đỉnh Am Tiên như ông Sơn. Có lẽ cũng là thứ duyên trời ban, nên gia đình ông đã gắn bó làm người “gác đền” Am Tiên suốt ba đời. Khi đứng ở đỉnh Am Tiên, chợt nghĩ, niềm tin về huyệt đạo linh thiêng trên đỉnh Am Tiên của dân gian có lẽ cũng như niềm tin vào hai chữ “Thiên mệnh” trong cõi nhân gian này vậy...
Thep Ngọc Minh (Thanh Niên)
Du lịch, GO!
Chốn bồng lai trên đỉnh Am Tiên
Kỳ bí huyệt đạo trên đỉnh Ngàn Nưa
Khu di tích Am Tiên
Chủ sơn của xứ Thanh linh địa
Chúng tôi ngược dốc Ngàn Nưa lên đỉnh Am Tiên vào buổi sáng mai khi hơi sương còn giăng kín lối đi. Am Tiên mùa này thưa vắng khách thăm, không gian của núi thiêng nhuốm vẻ hoang sơ, u tịch như trong những câu chuyện thần tiên, kỳ bí lưu truyền ở vùng Kẻ Nưa - Cổ Định. Trong cảnh sắc mờ ảo sương khói, Ngàn Nưa hiện lên trầm mặc, với những thác nước trắng xóa như từ giữa biển mây đổ xuống những trảng rừng mờ đục xa xa.
Sương dần tan, đứng trên đỉnh Am Tiên, ở độ cao 538 m so với mực nước biển, nhìn xuống vùng đồng bằng Nông Cống, Triệu Sơn với đồng ruộng, xóm thôn thật yên bình. Này là dòng Lãn Giang hiền hòa tưới mát những cánh đồng trù mật, xanh ngắt. Đây là giếng Tiên, ao Hóp, nơi các nàng tiên tắm mát trước khi trở về trời. Kia là núi Tía, núi Lễ Động gắn liền với truyền thuyết ẩn sĩ Tu Nưa nhiều pháp thuật, hóa thành chim hạc bay về trời...
Ông Lê Bật Sơn, thủ từ đền Am Tiên, cho biết nơi đây là đỉnh cao nhất của Ngàn Nưa. Ngày xưa, để lên lễ Phật, lễ tiên, lễ thần linh, lễ Thánh Mẫu... khách hành hương phải đi bộ non nửa ngày, vượt qua 7 ngọn núi hiểm trở. Còn theo nhà nghiên cứu sử học Phạm Tấn, trong tín ngưỡng tâm linh, từ xưa Ngàn Nưa vẫn được xem là núi thiêng và là trung tâm của đạo Tu Tiên (biến thể của đạo Lão), đạo Phật, đạo Mẫu, đạo thờ thần... từng rất thịnh. Hơn thế, Ngàn Nưa vẫn được người xưa ví là chủ sơn (núi chủ) của Ái Châu - xứ Thanh linh.
Dulichgo
Sử cũ còn ghi, chính ở Ngàn Nưa linh thiêng, năm 248, Bà Triệu cùng người anh trai Triệu Quốc Đạt đã tập hợp nghĩa sĩ, luyện tập võ nghệ, dấy binh khởi nghĩa, đánh đuổi giặc Đông Ngô, giành lại giang sơn, xã tắc. Dù cuộc khởi nghĩa thất bại và sau đó, Bà Triệu phải tuẫn tiết ở núi Tùng (xã Triệu Lộc, H.Hậu Lộc, Thanh Hóa) nhưng hình ảnh người phụ nữ phi thường với câu nói đầy khí phách: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi giặc Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người ta” vẫn còn mãi vang vọng.
Huyền tích ẩn sĩ tu tiên
Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép: “Ở Tinh Mễ, xã Quần Ngọc phía tây của huyện Nông Cống (nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn - PV) có tên gọi là khu Na Sơn (núi đuổi ma). Tương truyền núi có nhiều ma quỷ nhưng rồi một vị sơn tăng đến đây đọc chú, dần dần ma quỷ biến mất đi nên có tên gọi như thế. Mạch núi vốn được bắt nguồn từ huyện Lôi Dương (nay thuộc huyện Thọ Xuân) đổ lại, từng dãy liền tiếp, dài suốt mười mấy dặm. Nơi đây có 4 ngọn nước đổ dồn, nhà phong thủy nói bảy phiến long, bảy phiến hổ tức là nơi này. Trên ngọn cao chót vót của dãy núi có một ngôi chùa cổ, tục gọi là Am Tiên. Phía tả có cái động, tối mà sâu, dài mà hiểm. Triều Trần có một người hái củi ẩn cư nơi đó, có người gọi là Hoàng My tiên sinh...”.
Dulichgo
Nhà nghiên cứu lịch sử Phạm Tấn còn dẫn ra rất nhiều sách cổ ghi chép về Ngàn Nưa. Các ghi chép dẫu dài, ngắn khác nhau, nhưng đều có chung nội dung phản ánh về người tiều phu núi Nưa - tức vị ẩn sĩ thời Trần - Hồ từng giấu mình trên đỉnh Am Tiên ở Ngàn Nưa để tu tiên đắc đạo mà không chịu ra giúp nhà Hồ. Sau nhiều lần mời gọi không được, Hồ Hán Thương đã cho đốt núi, vị ẩn sĩ ấy hóa thành hạc đen bay lên trời. “Thời Trần - Hồ, Ngàn Nưa đã nổi tiếng là núi thiêng để các bậc ẩn sĩ đến tu tiên, lánh xa thế sự. Đến thời Lê và thời Nguyễn, các ngôi chùa, đền, miếu lần lượt được xây dựng...”, nhà nghiên cứu Phạm Tấn nói.
Từ trung tâm Am Tiên, đạo Tu Tiên đã phát triển mạnh ra các vùng xung quanh núi Nưa. Những tên gọi của các đỉnh núi ở Ngàn Nưa đều nhắc nhớ đến bóng dáng các đạo sĩ tu tiên, như đỉnh Các Sơn, Tượng Sơn, núi Sẻ, Bể Cạn... cùng những dấu tích như bàn cờ Tiên, chùa Tiên, giếng Tiên, vườn Đào Tiên, vườn thuốc Tiên... mang đậm truyền thuyết, huyền thoại ly kỳ, hấp dẫn. Đến ngày nay, ở vùng Kẻ Nưa - Cổ Định, dưới đỉnh Am Tiên vẫn còn lưu truyền nhiều câu chuyện thần tiên, như truyện các tiên ông xuống chợ, truyện ông Tu Nưa giúp dân chống lại cường quyền, truyện ông Tu Nưa giúp dân gánh núi...
Huyệt đạo linh
Theo truyền thuyết, nước ta có 3 huyệt đạo quốc gia, trong đó huyệt đạo Am Tiên là linh thiêng nhất. Tương truyền vào thời Đường, tướng Cao Biền được cử sang cai trị nước ta, thấy nơi đây có hình sông, thế núi linh thiêng, long mạch rất vượng, nên muốn phá đi. Cao Biền thường mặc áo phù thủy, cưỡi diều giấy đi khắp nơi để xem địa thế, hoặc giả lập đàn cúng tế lừa thần bản địa đến rồi dùng kiếm báu chém đầu, xong đào hào, chôn kim khí để triệt long mạch. Khi bay đến Ngàn Nưa, Cao Biền đã tìm cách trấn yểm huyệt đạo trên đỉnh Am Tiên nhưng bất thành (?).
Cứ theo cách lý giải của nhà nghiên cứu Phạm Tấn thì dẫu truyện Cao Biền có tà thuật trấn yểm long mạch, huyệt đạo chỉ là truyền thuyết hoang đường nhưng đức tin vào một huyệt đạo linh thiêng trên đỉnh Am Tiên trong dân gian là có thật. “Vì sao Bà Triệu lại chọn nơi này làm nơi dấy binh khởi nghĩa; vì sao các bậc ẩn sĩ thời Trần - Hồ lại đến đây tu tiên đắc đạo; vì sao chỉ với một đỉnh núi chật hẹp lại được các đạo Tu Tiên, đạo Phật, đạo Mẫu, đạo thờ thần cùng coi trọng? Chưa có sự giải thích nào cho những câu hỏi đó nhưng chắc hẳn các bậc cao minh chọn đỉnh Ngàn Nưa để gây dựng sự nghiệp hoặc ở ẩn tu tiên có nguyên do của nó. Vậy nên tự xưa người dân tin rằng Am Tiên là đỉnh thiêng, là huyệt đạo huyền bí bằng niềm tin tâm linh cũng là điều dễ hiểu”, nhà nghiên cứu Phạm Tấn nói.
Dulichgo
Dẫn chúng tôi lên mỏm đất bằng phẳng rộng chừng vài trăm mét vuông trên đỉnh Am Tiên, ông Lê Bật Sơn nói rằng đây chính là huyệt đạo linh thiêng của nước Nam mà xưa kia Cao Biền trấn yểm bất thành. Ông bảo, cứ vào những thời khắc biến động của đất nước, đêm đến người dân quanh vùng lại thấy một quầng sáng bí ẩn trên đỉnh Ngàn Nưa, ngay tại Am Tiên này.
“Vào mùng 9 tháng giêng hằng năm - ngày được dân gian lưu truyền là ngày mở cửa trời, đứng ở trung tâm của huyệt đạo Am Tiên, nhắm mắt lại, thả lỏng cơ thể, ta sẽ thấy trước mắt một quầng sáng màu đỏ, rồi chuyển sang màu da cam, cuối cùng là màu trắng xanh lẫn các hạt bụi. Trong khoảnh khắc ấy, người ta sẽ có cảm giác như mình đang bay bổng và hòa cùng với những chuyển động của vũ trụ bao la. Tâm hồn và thể xác trở nên thư thái, nhẹ nhõm, kỳ lạ lắm...”, ông Sơn nói.
Ở xứ Thanh này có lẽ không ai thông thuộc từng mỏm đá gốc cây trên đỉnh Am Tiên như ông Sơn. Có lẽ cũng là thứ duyên trời ban, nên gia đình ông đã gắn bó làm người “gác đền” Am Tiên suốt ba đời. Khi đứng ở đỉnh Am Tiên, chợt nghĩ, niềm tin về huyệt đạo linh thiêng trên đỉnh Am Tiên của dân gian có lẽ cũng như niềm tin vào hai chữ “Thiên mệnh” trong cõi nhân gian này vậy...
Thep Ngọc Minh (Thanh Niên)
Du lịch, GO!
Chốn bồng lai trên đỉnh Am Tiên
Kỳ bí huyệt đạo trên đỉnh Ngàn Nưa
Khu di tích Am Tiên
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





















